1. "Lấy trí nhân thay cho cường bạo"
Năm 20 tuổi, Trần Nhật Duật được vua cha cử lên giữ đạo Đà Giang. Mới đến trị nhậm chưa được bao lâu, thì trong đạo có một tù trưởng là Trương Giác Mật thấy ông quá trẻ, không phục, nên liên kết với các tù trưởng khác dấy binh chống đối. Cuộc nổi loạn lan rất nhanh, tiếng đồn về tận triều đình. Nhà vua bèn lệnh cho ông cất quân đánh dẹp.
Tuân chỉ, ông đem quân bản bộ đến tiễu trừ. Qua vài lần giao chiến, Giác Mật biết gặp phải một tướng tài không thể thắng được, mà còn có nguy cơ bị bại. Nhưng trong lòng vẫn chưa phục nên y đã cử người tâm phúc đến nói với Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật rằng:
- Mật không dám trái mệnh triều đình. Nếu ân chúa đi ngựa một mình đến trại thì Mật sẽ hàng. Còn nếu ngài đem binh mã đến, thì Mật chỉ còn một con đường chết mà thôi !
Nghe lời thỉnh cầu của Giác Mật, Trần Nhật Duật nhận lời rồi bảo sứ giả về trước báo tin. Y hẹn, ông chỉ mang có năm sáu tiểu đồng theo hầu đi đến trại giặc. Có kẻ thuộc hạ ngăn lại mà rằng :
- Thưa đức vương - Ngài đến chốn hang hùm, ổ rắn mà đi như thế này liệu có an toàn chăng ? Xin ngài đem nhiều vệ sĩ theo, để đề phòng bất trắc !
Nghe các tướng nói vậy, Nhật Duật chỉ mỉm cười và bảo :
- Ta lấy lòng thành thực mà đối xử, còn kẻ kia có manh tâm phản trắc hại ta, thì triều đình còn nhiều vương khác đến thay trừ loạn lo gì !
Nói rồi ông ung dung lên đường. Đến gần trại của Giác Mật, ông đã thấy cờ quạt cắm chỉnh tề, quân đứng từng hàng răm rắp, như là phô trương sức mạnh. Nhưng ông vẫn thản nhiên đi vào giữa hàng quân, nhìn thẳng vào mặt những viên tướng giặc và biết chắc sẽ không có chuyện gì xảy ra, nên đàng hoàng bước vào trại.
Trịnh Giác Mật đứng trên cao theo dõi ông từ xa, thấy ông đi đứng oai phong rõ là một dũng tướng, lấy làm phục, bèn ra tận cửa đón ông vào sảnh. Điều khiến Giác Mật rất đỗi ngạc nhiên là từ lúc chào hỏi câu đầu, đến lúc trò chuyện, nhất nhất ông đều theo đúng phong tục của dân bản địa. Nhất là khi dự tiệc khoản đãi, ông cũng ăn bốc, uống rượu bằng mũi, nói tiếng miền núi thành thục, không kém gì bản thân Giác Mật. Chính những cử chỉ ấy đã làm cho Trịnh Giác Mật và các tướng sĩ của y có mặt trong buổi tiếp thán phục vô cùng.
Khi Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật trở về đến bản doanh, thì Trịnh Giác Mật cũng đem vợ con và gia thuộc đến quy hàng. Cuộc dẹp loạn của ông không những không gây tổn thất về người và của cho cả hai bên, mà còn giữ yên được lòng người trong cõi.
Trần Nhật Duật đem Giác Mật và gia quyến ông ta về kinh ra mắt nhà vua. Vua Trần khen ngợi ông và đánh giá cao chiến tích không cần đổ xương máu này. Sau khi úy lạo, nhà vua bèn cho Giác Mật và gia đình trở về, chỉ giữ người con trưởng ở lại và giao luôn cho Chiêu Văn Vương chăm sóc.
ông nhận con Giác Mật làm nghĩa tử, nuôi dạy ba, bốn năm, sau đó ông xin triều đình phong tước, rồi cho về thay cha quản trị vùng đất cũ.
Trong cuộc kháng chiến chống giặc Mông - Nguyên, Trần Nhật Duật đã tham gia chỉ huy hàng chục trận. ông luôn luôn tỏ ra là một vị tướng có bản lĩnh, biết mình biết người, nên chẳng những không mắc mưu kẻ địch xảo trá, ngược lại ông đã dụ được kẻ địch vào kế của mình.
Trong cuộc chiến đấu chống Mông - Nguyên xâm lược lần thứ hai, triều đình cử ông giữ mặt trận Tuyên Quang, đề phòng quân giặc từ Vân Nam đánh sang. Quả đúng như ta nhận định. Cánh quân Mông - Nguyên từ Vân Nam kéo vào có hơn một vạn tên, do Bình chương chính sự tỉnh Vân Nam là Na-xa-rút-đin chỉ huy. Về phía ta, đạo quân của Trần Nhật Duật chỉ có khoảng vài ngàn. Quân hai bên gặp nhau tại Thu Vật (nay thuộc vùng Yên Bình, Yên Bái) và đã giao tranh quyết liệt ý đồ của địch là muốn đánh nhanh, thắng nhanh, để chĩa mũi giáo đâm vào sau lưng quân ta. Biết trước âm mưu giặc, Trần Nhật Duật chia quân đánh chặn từng bước để tiêu hao sinh lực và kìm chân kẻ thù. Nhưng lực lượng giặc quá mạnh. Để bảo toàn sinh lực ông cho quân rút lui, theo dòng sông Lô. Quân giặc thấy ta rút chia nhau dọc theo hai bên bờ sông truy đuổi.
Đi được một quãng khá xa, Trần Nhật Duật nhìn lại thì thấy quân không còn rượt đuổi, mà lại tiến từ từ. ông bèn bảo với các tướng sĩ rằng :
- Phàm truy kích phải cần nhanh, nay giặc tiến từ từ, ta sợ có quân chắn ngang phía trước chăng ?
Nói rồi ông liền cử toán thám tử đi thăm dò. Quả nhiên khi trở về, họ cho biết phía hạ lưu có giặc chắn giữ. ông liền hạ lệnh cho quân sĩ bỏ thuyền lên bờ, rồi rẽ vào rừng. Do đó, quân ta thoát khỏi quỷ kế "cất vó một mẻ" của giặc.
Khi quân ta rút về đến Bạch Hạc (Việt Trì) an toàn, thì đúng lúc một bộ phận quân Tống chạy từ Trung Quốc sang, xin quy phục. ông bèn dung nạp họ, làm lễ uống máu ăn thề và cho bổ sung vào quân ngũ của mình.
Từ đấy, trong cánh quân của Trần Nhật Duật có thêm một bộ phận quân Tống sát cánh cùng đánh giặc Nguyên. Trong toán quân này, nhiều người dũng cảm, lập công to, được triều đình khen thưởng trọng dụng.
Khi nhận được tin quân giặc từ Chiêm Thành đánh ra đã đến đất Quảng Bình, triều đình liền cử ông vào mặt trận phía Nam. Cánh quân do Trần Nhật Duật chỉ huy lần này có thêm quân của Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản giúp sức. Quân ta vào đến Hà Tĩnh thì gặp giặc. Hai bên đánh nhau quyết liệt. Qua vài trận giao tranh, thấy bọn giặc thường dùng kị binh đánh chớp nhoáng, gây bất ngờ, khiến quân ta bị động lúng túng, ông phân tích : "Chúng mạnh trên đất khô cứng, tất bất lợi ở những chỗ đất lầy thụt", nên khi lui quân ra Thanh Hóa, ông bèn chọn vùng đồng lầy tả ngạn sông Trạp, sông Hoàng (nay thuộc đất Nông Cống) làm trận địa. Quả như nhận định của ông, khi bọn kị binh giặc đến, ông cho một cánh quân khiêu chiến, rồi giả vờ thua chạy vào vùng đất đã chọn. Bọn địch liền đuổi theo và cả người lẫn ngựa đã bị sa lầy, khiến chúng không thể nào tiến quân được, lại trở thành miếng mồi ngon cho quân phục kích của ta nhằm bắn. Từ đó, bọn tướng giặc Toa Đô, Giảo Kỳ không còn dám xua quân lùng sâu vào các vùng đất của ta nữa.
Trong cuộc đánh đuổi quân Mông - Nguyên ra khỏi đất nước lần thứ 2, nhà vua giao cho Thượng tướng Trần Quang Khải, cùng các tướng Nguyễn Khả Lạp, Nguyễn Truyền, Nguyễn Khoái... chỉ huy đánh vào Đông Đô. Còn Trần Nhật Duật được giao đánh vào Tây Kết và Hàm Tử. Trước khi xuất trận, vua Trần đã dặn dò ba quân :
- Quân của Chiêu Văn Vương có nhiều người Tống, ăn mặc, nói tiếng cũng giống bọn Thát, do đó cần phải nhận kĩ kẻo lầm !
Đến khi giáp chiến với cánh quân Nhật Duật, bọn giặc Mông - Nguyên tưởng là quân Tống từ Trung Quốc sang tham chiến, nên sợ hãi kêu lên : "Có người Tống đánh giúp !", rồi vứt cả vũ khí, hoang mang, bỏ chạy toán loạn. Nhờ thế quân ông lập được chiến công lớn.
2. Vị tướng đầy bản lĩnh
Cuộc đời Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật lúc chinh chiến cũng như khi thanh bình, bao giờ cũng khoan thai, đĩnh đạc, hào hoa, phong nhã. ông thường giao du với người nước ngoài : Thời bấy giờ gần kinh thành có một làng gọi là Ba Già. Dân cư làng này toàn người Chiêm Thành. Những lúc rảnh việc, ông thường cưỡi voi đến đây chơi với các già làng, có khi tới hai, ba ngày mới về. Cũng có khi ông đến chùa Tường Phù, nơi đây có các sư người Tống trụ trì, để trò chuyện
Hễ đến chơi với người Tống, ông ngồi ghế đẩu đối diện và nói bằng tiếng Trung Quốc. Còn khi tiếp xúc với người Chiêm Thành, hay người nước khác, ông đều nói tiếng của họ, theo đúng phong tục củ họ, khiến người nước ngoài rất ngạc nhiên và vô cùng thán phục.
Đời vua Trần Nhân Tông có sứ nước Mã Tích (ở phía Bắc Thái Lan sang cống). Cả triều đình không ai biết tiếng nước này, chỉ có mình Trần Nhật Duật phiên dịch được. Có người lấy làm lạ, hỏi ông : "Sao ngài lại biết tiếng nước ấy ?". Ông chỉ mỉm cười, nói : "Đời Thái Tông có sứ các nước đến, tôi có giao du với họ, nên cũng biết được ít nhiều. "
Vua Nhân Tông thường khen ông :
- Chú Chiêu có lẽ kiếp trước đã tiếp sứ giả các nước, nên ngày nay mới thông thạo được tiếng nước họ.
Vào đời vua Trần Anh Tông, lúc này ông đã làm Tể tướng. Ngoài thời gian tại triều, ông vẫn giữ thú vui giao du với người nước ngoài, thường đến nhà Trần Đạo Chiêu chơi. Thấy vậy, vua Anh Tông đã phải nói :
- Ông nay đã là Tể tướng. Còn Đạo Chiêu là người Tống, nếu có việc gì đã có hàn lâm phụng chỉ tiếp đãi, há lại đến ngồi trò chuyện với họ?
Thường lệ khi tiếp sứ các nước ngoài thời đó, các quan đại thần trong triều đều phải có phiên dịch. Riêng Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật thì không cần người dịch nghĩa, ông có thể trực tiếp trao đổi được với các sứ giả. Đến khi tiễn các sứ giả về quán dịch, ông cùng họ ngồi uống rượu, trò chuyện vui vẻ như thể là đã quen biết từ trước. Có sứ giả đã nghi ngờ hỏi ông : "ông có phải là người Chân Định (Trung Quốc) sang đây làm quan không?". ông trả lời không và giải thích thế nào người này cũng không tin, vì ông nói năng, cư xử không khác gì người nước họ.
Nhà vua biết ông rất uyên bác, được mọi người kính trọng, nên thường đem chuyện trong hoàng gia hỏi ông. Thời Anh Tông, nhà vua muốn tôn Tuyên Từ Thái hậu làm "Thái hoàng thái hậu", nhưng chưa biết ý gia tôn thế nào, nên vẫn chần chừ. Sau khi Khâm Từ hoàng thái hậu đem việc ấy hỏi ông, ông trả lời là được, thì nhà vua mới thực hiện.
Những chuyện chọn từ, đặt tên cho những vật dụng quan yếu của hoàng gia, nhà vua cũng nhờ đến ông. Chẳng hạn vua Anh Tông có hai cái mũ trụ, chuyên dùng khi có việc binh nhung, nhưng chưa biết đặt tên như thế nào, bèn hỏi ông. Trần Nhật Duật đã đặt tên cho một cái là "vô uy" và một cái là "võ đức" ngụ ý ràng việc võ nghệ phải đi cùng với đạo đức, phẩm chất.
Lần khác, Đông cung thái tử có hai ngôi nhà, một cái để ở, một cái để học và đọc sách. Nhà vua lại nhờ ông đặt tên.
Ông đặt cái nhà ở là "Thoát trai" còn nhà học là "Tư thiên"
Ông còn là người rất sành dân ca, dân vũ. Phần nhiều các bài hát, điệu múa thời Trần là do ông đặt ra.
3. Con người khoan dung, độ lượng
Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật là một người điềm đạm, độ lượng và khoan dung. Đối với người trong nhà, kể cả nô lệ, ông chưa đánh đập một ai. Nếu có người nào đó phạm lỗi nặng, ông cũng chỉ dùng roi mây nhỏ đánh vào mông để khuyên bảo, chỉ cho người bị đánh thấy được lầm lỗi mà thôi. Do đó, những kẻ bị phạt không ai mang lòng oán giận ông.
Có lần gia đồng giữ thuyền của ông bị gia đồng bên Phủ quốc (nơi quan đại thần đầu triều ở) đánh. Người nhà chạy về mách ông. ông điềm tĩnh hỏi :
- Có chết không ?
- Dạ thưa ! Chỉ bị thương thôi ạ ?
Rồi ông lựa lời, để tránh gây mối xung đột, bất hòa :
-Không chết thì chăm sóc cho nó, mách để làm gì ?
Lại một lần khác, có người kiện gia đồng của ông với Phủ quốc. Bên Phủ quốc sai người sang bắt trói điệu về. Gia đồng ông phải trốn vào trong Phủ. Kẻ bắt đuổi đến nhà, đòi trói quát tháo ầm ỹ. Phu nhân khóc, nói :
- Ông là Tể tướng, mà Bình Chương bên Phủ quốc cũng là Tể tướng. Chỉ vì ông nhu nhược quá, cho nên người ta mới khinh rẻ đến thế !
Ông chẳng nói nửa lời, chỉ sai người đến khuyên gia đồng rằng : "Mày cứ ra, ở đâu cũng có phép nước cả, đừng lo".
Trần Nhật Duật đã làm quan năm đời vua. Đối với Trần Thánh Tông, ông là anh em, với Trần Nhân Tông là chú cháu. Đối với Trần Anh Tông ông là bậc ông, với Minh Tông là bậc cố và với Hiển Tông là bậc cụ. Suốt năm đời vua, ông đều một lòng giúp rập, giữ phận mình là một đại thần nguyên lão, hết lòng hết sức chăm lo các trọng trách được giao.
Kể từ năm 13 tuổi, ông đã được phong tước vương, dần dà lên đến Tể tướng, rồi Thái sư, tá Thánh Thái sư, tá Thánh Thái sư đại vương... Có thời đời vua Trần Anh Tông, quyền cai trị đất nước nằm trong tay ông. Nhà vua đi kinh lí phương Nam, giao cho ông toàn quyền giúp thái tử, cai quản đất nước, lúc ấy thái tử mới 9 tuổi. Nhưng khi trở về, nhà vua thấy mọi việc triều đình đều trong ấm, ngoài êm, nên rất cảm kích và hết lời khen ngợi ông.
Ông có người vợ là Trinh Túc phu nhân, quê ở Thanh Hóa. Khi ông mất, để tưởng niệm công đức của ông, nhân dân địa phương đã lập đền thờ dưới chân núi Vân Trinh, thuộc xã Quảng Hợp, huyện Quảng Xương, Thanh Hóa.
Trong đền, có đôi câu đối sau :
Tích phù Việt địa trung hưng tướng
Danh chấn Nam thiên thượng đẳng thần
(Vị tướng trung hưng công phù đất Việt
Bậc thần thượng đẳng danh nức trời Nam)
Vua Lê Thánh Tông, có lần đi đánh giặc Chiêm, đã đến thăm đền và đề bài thơ bằng chữ Hán sau :
Nhất phái thiên hoàng xuất hải thanh
Phôi thai đình độc tác tông anh
Trùng hưng miếu vũ tư thao lược
Bách Việt hài đồng thức tính danh
Ngư đại long phù châu sũng tích
Hồ xu dương lỗ đảm uy danh
Bật thành tứ thế điều nhương tích
Hiền nhược trung hưng uyển nhược sinh
(Bùi Xuân Vỹ sưu tầm, phiên Nôm)
Tạm dịch thơ :
Một nhánh dòng vua tới biển thanh
Đình phôi thai nổi tiếng hùng anh
Lại xây miếu vũ thờ thao lược
Trẻ Việt bao người biết tính danh
Túi cá vàng rồng soi dấu thánh
Cáo Hồ, Chiêm thỏ khiếp uy danh
Giúp nên bốn thuở đầy huân tích
Đức nghiệp lòng trung mãi sử xanh
(Bùi Xuân Vỹ, Hương Nao dịch)
Hiện ở xã Đan Duệ, huyện Hải Lăng, Quảng Trị, còn có một ngôi đền thờ ông và Huệ Vũ Vương Trần Quốc Chẩn. Nhân dân địa phương vẫn thường kể, trong các lần bình phạt Chiêm Thành, quân sĩ thường ỷ thế cướp bóc của dân. Riêng các đạo quân do ông và Quốc Chẩn chỉ huy, quân lệnh hết sức nghiêm ngặt, binh lính không kẻ nào dám quấy nhiễu, nên nhân dân tạ ơn, lập đền thờ hai ông.
Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật là một người đủ cả nhân, nghĩa, lễ, trí, tín nên ông được hưởng trọn vẹn phúc, lộc, thọ, khang. Trên đời không mấy người được thế !